Ðịnh nghĩa: Quán từ là loại từ thường đi kèm theo danh từ để bổ nghĩa cho danh từ ấy về giống (giống đực, giống cái, giống trung) và số (số nhiều, số ít).

Đang xem: ý nghĩa và cách trồng trúc quân tử phong thủy chuẩn rước hên vào nhà

Quán từ trong tiếng Việt: con, cái: con dao, cái búa…

Trong tiếng Đức qua quán từ người ta còn nhận biết được danh từ đó đang đứng trong cách nào (cách một, cách hai, cách ba, cách bốn).

– Nhận biết về giống: der Mann (người đàn ông), die Frau (người đàn bà), das Kind (đứa trẻ)…

– Nhận biết về số: die Männer (nhiều đàn ông), die Frauen (nhiều phụ nữ), die Kinder (nhiều trẻ con)…

– Nhận biết về cách:

Der Mann hilft der Frau.

(Người đàn ông (cách một, Nominativ) giúp người phụ nữ (cách ba, Dativ)).

Das Kind erkennt den Mann wieder.

(Đứa trẻ (cách một) nhận ra người đàn ông (cách bốn, Akkusativ)).

Chú ý: Mặc dù có một số qui tắc để nhận biết giống của danh từ, tức là nhận biết quán từ trong tiếng Đức nhưng đối với người sử dụng tiếng Đức không phải là tiếng mẹ đẻ thì sự nhận biết quán từ bao giờ cũng nan giải vì luôn có những danh từ mới không thuộc vào qui tắc nào xuất hiện. Mà không nhận ra giống của danh từ thì không thể sử dụng văn phạm chính xác được.

Gồm hai loại: Quán từ xác định (bestimmte Artikel: der, die, das) và Quán từ không xác định (unbestimmte Artikel: ein, ein, eine ).

Quán từ xác định

Số ít (Singular) Số nhiều (Plural)
giống đực(Maskulinum) giống trung (Neutrum) giống cái(Femininum)
der das die die

Quán từ không xác định

Số ít (Singular) Số nhiều (Plural)
giống đực(Maskulinum) giống trung (Neutrum) giống cái(Femininum) không có quán từ không xác định.
ein ein eine

Dùng để chỉ những gì cụ thể, đã biết sẵn như ông này (der Mann), bà kia (die Frau) hoặc quyển sách này (das Heft)… Trong tiếng Việt chúng ta sử dụng những từ như: này, kia, đó… để xác định người và sự vật.

Khi chúng ta nói: „Ông này rất tốt bụng.“, dĩ nhiên trước đó chúng ta đã quen người đàn ông này và cũng vì thế mà biết ông ta tốt hay xấu. Tiếng Đức cũng tương tự như vậy: Der Mann ist gutmütig.

Xem thêm:

Dùng để chỉ những sự vật chung chung không cụ thể, ví dụ như: Wir brauchen einen Tisch. Dịch nghĩa: Chúng ta cần một cái bàn.

– Ở đây không nói rõ là cái bàn nào, to nhỏ, mầu sắc cụ thể ra sao, miễn là một cái bàn.

– Vì thế mà có tên là Quán từ không xác định.

– Trong số nhiều (Plural) chỉ có quán từ xác định (die), không có quán từ không xác định.

Mỗi khi một danh từ bị chuyển đổi từ chủ ngữ (Subjekt, Nominativ) sang bổ ngữ (Objekt) trong câu(Akkusativ, Dativ…) thì quán từ của danh từ đó cũng bị biến đổi theo. Vì thế mà quán từ trong tiếng Đức có rất nhiều hình thể khác nhau. Danh từ và quán từ đó bị biến đổi sang cách nào thì tùy thuộc vào động từ của câu nói đó. Chính vì thế mà động từ chiếm một vai trò rất quan trọng trong tiếng Ðức.

1) Deklination des bestimmten Artikels

(Hình thể của quán từ xác định)

Singular (số ít)

Kasus

(cách)

Maskulinum

(giống đực)

Femininum

(giống cái)

Neutrum

(giống trung)

Nominativ (cách một) der Mann die Frau das Kind
Genitiv (cách hai) des Mannes der Frau des Kindes
Dativ (cách ba) dem Mann(e) der Frau dem Kind(e)
Akkusativ (cách bốn) den Mann die Frau das Kind

Chú ý: – Cách ba (Dativ) giống đực và giống trung đôi khi có thêm một chữ „e“. Đây là lối nói cổ, không nhất thiết phải sử dụng.

– Trong cách bốn giống cái và giống trung không có sự thay đổi so với cách một.

Plural (số nhiều)

Kasus (cách) Maskulinum Femininum Neutrum
Nominativ (cách một) die Männer die Frauen die Kinder
Genitiv (cách hai) der Männer der Frauen der Kinder
Dativ (cách ba) den Männern den Frauen den Kindern
Akkusativ (cách bốn) die Männer die Frauen die Kinder

Chú ý: – Số nhiều cách một và cách bốn giống nhau.

– Số nhiều không có sự thay đổi giữa các giống khác nhau. Tất cả quán từ trong số nhiều đều là „die“

2) Deklination des unbestimmten Artikels

(Hình thể của quán từ không xác định, không có số nhiều)

Singular (số ít)

Kasus

(cách)

Maskulinum

(giống đực)

Femininum

(giống cái)

Neutrum

(giống trung)

Nominativ (cách một) ein Mann eine Frau ein Kind
Genitiv (cách hai) eines Mannes einer Frau eines Kindes
Dativ (cách ba) einem Mann(e) einer Frau einem Kind(e)
Akkusativ (cách bốn) Einen Mann Eine Frau ein Kind

Plural (Không có số nhiều, sử dụng phủ định từ „kein = không có“ trong số nhiều)

Kasus (cách) Maskulinum Femininum Neutrum
Nominativ (cách một) keine Männer keine Frauen keine Kinder
Genitiv (cách hai) keiner Männer keiner Frauen keiner Kinder
Dativ (cách ba) keinen Männern keinen Frauen keinen Kindern
Akkusativ (cách bốn) keine Männer keine Frauen keine Kinder

* Sự biến thái của quán từ rất quan trọng, bắt buộc phải học thuộc lòng. Nếu không sau này sẽ không thể nắm bắt được sự biến thái của tính từ. Theo như bảng trên thì có tất cả 36 cách biến hóa của quán từ, còn tính từ có tổng cộng 72 cách biến đuôi. Nhưng nếu nhớ được cách biến đuôi của quán từ thì sẽ cũng rất dễ nhớ đuôi của tính từ.

Xem thêm: Sự khác biệt giữa dây tiếp địa và dây trung tính, dây tiếp đất là gì

Theo tư tưởng Nhân sinh quan của Nho giáo, người đàn ông trước kia được chia làm hai hạng người, đó là: Quân tửTiểu nhân. Tuy nhiên, ngoài những nhóm người thuộc 2 hạng người trên, còn có nhóm người giả mạo quân tử, gọi là Ngụy Quân tử. Ta đi vào chi tiết từng hạng người như sau:  
Đào Duy Anh trong Hán Việt từ điển đã giảng quân tử có nghĩa là “người tài đức xuất chúng – Người phẩm hạnh ngay thẳng – Người có nhân cách hoàn toàn, theo Khổng Giáo”. 
Thực ra, nghĩa gốc của từ quân tử nghĩa là “kẻ cai trị” và là một trong các khái niệm quan trọng của hệ tư tưởng Nho giáo. Đó là hình mẫu con người lý tưởng phù hợp với phương thức cai trị xã hội đức trị (nhân trị) của học thuyết này. Người quân tử thường được coi là người hành động ngay thẳng, công khai theo lẽ phải và không khuất tất vụ lợi cá nhân. Người quân tử là người có đầy đủ các đức tính trong ngũ thường: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, trong đó Nhân là quan trọng nhất.
Khổng Tử được cho là người đã sáng tạo ra từ quân tử. Đối với Khổng Tử, các chức năng của nhà nước và sự phân cấp xã hội là các cơ sở của xã hội và được đảm bảo bằng các giá trị đạo đức. Vì thế con người lý tưởng đối với ông là quân tử. Thời nhà Chu, quân tử là từ dùng để chỉ tầng lớp quý tộc. Đến thời Xuân Thu thì nó được dùng để chỉ các đại phu. Vì thế những người làm quan được gọi là quân tửQuân tử tiếng Trung là 君子, dịch sang tiếng Anh là Gentleman (tức Quý ông). 
Ngụy quân tử (tiếng Trung 偽君子) dùng để chỉ những kẻ quân tử giả mạo, bề ngoài ra vẻ rất chính nhân quân tử, sẵn sàng “đại nghĩa diệt thân” nhưng sự thật bên trong lại thấy lợi quên nghĩa, sẵn sàng làm chuyện đê hèn, ác độc nhất cốt sao có lợi cho bản thân mình. Đây là những kẻ dối trá, quỷ quyệt, khó lường, vì nhìn bề ngoài không phát hiện ra, còn nguy hiểm hơn nhiều kẻ tiểu nhân. Một trong những nhân vật đại diện tiêu biểu nhất của ngụy quân tử chính là Nhạc Bất Quần trong Tiếu ngạo giang hồ của nhà văn Kim Dung. 
Ngòi bút rất đỗi tài hoa của đại hiệp Kim Dung đã khắc họa nên nhân vật kinh điển Nhạc Bất Quần trong hình tượng thư sinh nho nhã nhưng trong lòng ẩn chứa nhiều dã tâm khó lường. Trước mặt nhân sĩ võ lâm, Nhạc Bất Quần luôn miệng nói về nhân nghĩa lễ trí tín nhưng sau lưng lại ngấm ngầm tiến hành những âm mưu thủ đoạn hòng chiếm đoạt Tịch tà kiếm phổ của Lâm gia. 

*

Nhạc Bất Quần – một ngụy quân tử nổi tiếng trong kiếm hiệp Kim Dung. Ảnh: Youtube  

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *