Nền kinh tế tri thức là gì

-

Kinh tế tri thức là gì là một trong những từ khóa được search nhiều nhất về chủ đề Kinh tế tri thức là gì trong bài viết này, daiquansu.mobi sẽ viết bài Kinh tế tri thức là gì – những vấn đề của kinh tế tri thức


*


Mục lục

1 Kinh tế tri thức là gì – những vấn đề của kinh tế tri thức1.2 II. Nội dung1.2.2 2. vấn đề lựa chọn mô ảnh phát triển kinh tế tri thức ở VN

I. Xây dựng ĐẦU

Qua 20 năm đổi mới, chuyển sang nền kinh tế phân khúc và mở cửa hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế VN vừa mới đạt được những thành tựu lớn lớn, tốc độ phát triển thuộc loại cao nhất toàn cầu, kết hợp tốt phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội; là nước có thành tích giảm nghèo được thế giới khen ngợi; đời sống nhân dân nâng cao rõ rệt. tuy vậy, chất lượng phát triển, hiệu quả và tính cạnh tranh của nền kinh tế còn rất thấp, chứa đựng nhiều yếu tố tăng trưởng không vững bền, đặc biệt là rủi ro tụt hậu xa hơn đối với các nước không giống, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang chuyển tiếp từ không gian công nghiệp sang thế giới thông tin và tri thức.

Bạn đang xem: Nền kinh tế tri thức là gì

“Kinh tế tri thức” là một khái niệm mới. Chuyển sang nền kinh tế này là một xu hướng thế giới đang diễn ra. Mặc dù nền kinh tế nước ta đã ở trình độ tăng trưởng rất thấp – nền kinh tế chủ yếu lệ thuộc tài nguyên và lao động, giá trị do tri thức xây dựng k đáng kể; chưa khơi dậy và phát huy mức độ sáng tạo của con người, sự chuyển mạnh sang hướng tăng trưởng dựa trên tri thức trở thành yêu cầu cấp thiết, không thể trì hoãn. Bỏ lỡ thời cơ to Viet Nam sẽ tụt hậu xa hơn và đó là hiểm họa của dân tộc. do vậy, việc nhìn thấy xét các chủ đề của việc lựa chọn mô hình kinh tế tri thức có một ý nghĩa đặc biệt cần thiết, thậm chí, đủ nội lực nói có vai trò quyết định, trong việc lựa chọn kế hoạch phát triển của Viet Nam cho đến nay.

II. Nội dung

1. Khái quát một số mô ảnh tăng trưởng kinh tế tri thức trên toàn cầu

Nền kinh tế thế giới đã vượt qua những ngưỡng cửa chông gai nhất định trước xu thế toàn cầu hóa. Điều đó đã gây ảnh hưởng đến hầu hết các nền kinh tế. Đứng trước tình thế đó, mỗi đất nước, dân tộc đang và đã tìm hiểu, chọn cho riêng mình những hướng đi thích hợp. Trong đó, việc hướng tới thiết lập một nền kinh tế tri thức được các đất nước đặc biệt để ý.

Trên thế giới hiện nay, theo phân tích của Liên Hợp Quốc có khoảng 20 nước đang tiến vào nền kinh tế tri thức, với những hàng hóa chứa hàm lượng tri thức cao như: Đức 58,6%; Singapo 57,3%; Mĩ 55,3%; Nhật 53%.

Mỗi nước đều có những biện pháp, phương thức và sự chọn cho riêng mình trong việc thiết lập nền kinh tế này. Với việc liều lĩnh đầu tư mang tính độc lập hình thành các khu công nghệ cao. Mĩ vừa mới đi đến thành công với những đóng góp chiếm ưu điểm trên phân khúc thế giới về các món hàng có chất lượng vượt trội. Các viện tìm hiểu có quy mô với đội ngũ cán bộ khoa học có chất lượng.

Với mức đầu tư gần 80% GDP cho việc thiết lập và tăng trưởng các khu công nghệ cao, nghiên cứu khoa học kĩ thuật ứng dụng. hiện giờ chỉ riêng thung lũng Silicon đã có hơn 7000 doanh nghiệp kỹ thuật cao với doanh thu trên 450 tỷ USD/năm. Với hơn 300km công nghệ cao trên toàn nước Mĩ.

Đầu tư mạnh mẽ cho công nghệ thông tin và mạng, xây dựng thương mại điện tử, điều đó vừa mới đưa tính đột phá cho nền kinh tế nước Mĩ. Đầu tư cho khoa học công nghệ, khoa học ứng dụng là hướng đi và mục đích cuối cùng để thiết lập và phát triển nền kinh tế nước Mĩ trong những thập kỷ vừa qua.

Là nước có nhiều điều kiện vô cùng chông gai về tài nguyên, Nhật Bản vừa mới không ngừng tận dụng những lợi thế mà toàn cầu hóa đang mang lại. Nhật tiến hành một thời kỳ nhập khẩu quy mô về các phát minh khoa học, bằng sáng chế từ nước ngoài mang vào áp dụng trong sản xuất. Trong những năm 1950 – 1970 Nhật Bản đang nhập khẩu 11606 bằng phát minh và sáng chế của nước ngoài. bên cạnh đó hiện giờ Nhật Bản tiến hành đồng thời nhập thiết bị hiện đại và sáng chế khoa học với giá chát. Nhật Bản dốc sức đầu tư mạnh mẽ vào các ngành nghề công nghệ thông tin với mục tiêu xây dựng “Nhật Bản điện tử” với vốn đầu tư 37 tỷ USD, thiết lập mạng lưới rộng khắp nước Nhật với 100.000 máy tính máy tính sẽ được lắp đặt bổ sung cho các công sở, trường học và siêu thị. thiết lập nền tảng hạ tầng thông tin vững chắc. chú trọng xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng bằng việc đầu tư phát triển các viện tìm hiểu, viện kiểm định chất lượng, liên kết các trường ĐH với các viện nghiên cứu khoa học, gần 6,6% GDP đang được đầu tư chi giáo dục. Nhật Bản nhìn thấy đây như một ngành đầu tư khôn ngoan mang lại doanh số lâu dài và ổn định.

Các nước công nghiệp tăng trưởng luôn tìm đến thiên hướng chung là đầu tư mạnh mẽ vào khoa học công nghệ, hình thành các khu công nghệ cao nhằm tạo ra ưu điểm lớn. ngoài ra, so với những nước đang tăng trưởng, để hòa nhập vào công cuộc phát triển hiện đại, khuynh hướng tiến hành thiết lập hướng đến một nền kinh tế tri thức chủ yếu theo hướng du nhập kỹ thuật trung gian và truyền thống từ các nước tăng trưởng. Qua đó dần tiến lên thiết lập một nền công nghiệp trung gian bậc hai của nền công nghiệp thế giới.

Thái Lan. Đài Loan và Nam Triều Tiên là những nước vừa mới lựa chọ khuynh hướng này và vừa mới thành công. hiện giờ các nước này hướng đến xu thế cạnh tranh, xây dựng cửa hội nhập, sử dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật và dịch vụ của toàn cầu. Đây cũng chính là xu thế chung của các nước có nền kinh tế kém phát triển, bước đầu thực hiện công nghiệp hóa.

Trên những điểm giống như vậy, chúng ta không khó khăn nhận thấy rằng trên thế giới hiện tại, dù theo chế độ chính trị nào, trình độ phát triển còn thấp hay cao thì mục tiêu hướng đến thiết lập một nền kinh tế tri thức là mục tiêu hiện hữu của mọi đất nước. Các nước có những kế hoạch, sách lược xây dựng một nền kinh tế phát triển như thế nào thì trên thực tiễn thế giới vẫn chủ yếu đi theo hai khuynh hướng tăng trưởng chính:

* Một là: Các nước tự tao ra phát minh trên các ngành nghề công nghệ kỹ thuật cao, sau đó du nhập ứng dụng vào sản xuất. Tiến hành xuất khẩu, du nhập các thiết bị, công nghệ cũ kỹ ra nước ngoài. khuynh hướng này thường chỉ xuất hiện ở các nước có nền công nghệ hiện đại.

* Hai là: Các nước nhập khẩu các thiết bị công nghệ, các bằng sáng chế, khoa học kỹ thuật để mang vào sản xuất.

ngoài ra, hiện nay đang xuất hiện một số xu hướng mới chưa định hướng rõ nét. Đó là khuynh hướng du nhập khoa học công nghệ, khoa học ứng dụng và đầu tư tìm hiểu phát triển. Đây là những nước có trình độ phát triển ổn định, đang thiết lập nền kinh tế hai tầng hiện đại giống như Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ…nhưng Quan sát chung luôn luôn thiên về nhập khẩu thiết bị.

Đây là những xu hướng mà hầu hết các đất nước mong muốn thiết lập nền kinh tế tri thức cần phải nhìn thấy xét và lựa chọn cho phù hợp.

2. vấn đề lựa chọn mô ảnh phát triển kinh tế tri thức ở VN2.1. Cơ sở của việc lựa chọn mô hình phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

Trong thời đại công nghệ thông tin ngày nay, chúng ta k có sự lựa chọn nào không giống là phải tiếp cận nhanh chóng những tri thức và công nghệ mới nhất của thời đại để hiện đại hóa nền kinh tế, tạo ra sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước tạo dựng nền kinh tế tri thức có năng lực cạnh tranh với giá trị gia tăng ngày càng cao.

so với nước ta, sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức thời cơ lớn để đẩy mau công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng trưởng lực lượng sản xuất đi lên chủ nghĩa không gian. Nếu k biết tận dụng thời cơ này để đổi mới mẹo nghĩ, hướng dẫn sử dụng, nâng cao năng lực nội sinh, bắt kịp tri thức mới của niên đại, thì không thể đi tắt đón đầu va sẽ liên tục tụt hậu rất xa.

bên cạnh đó, việc chọn một mô ảnh kinh tế tri thức để tăng trưởng cho phù hợp với tình ảnh và hoàn cảnh đất nước là một vấn đề hết sức cần thiết. ngày nay, việc chọn mô hình phát triển của Việt Nam bị ràng buộc bởi hai điều kiện cơ bản:

trước hết đó là trạng thái kém phát triển ở nước ta hiện tại. Là một nước nghèo, bên cạnh hậu quả của hai cuộc chiến tranh, thì việc thực hiện cơ chế plan hóa tập hợp quan liêu, bao cấp trong một thời gian dài đang sử dụng cho nước ta giao động tình trạng trì trệ, khủng hoảng. Tiềm lực về kinh tế, cơ sở vật chất, kĩ thuật gần như k có, trình độ dân trí thấp…Nói chung, những yếu tố khách quan và chủ quan đã làm cho nước ta trở thành một nước nghèo nàn và lạc hậu so với trình độ tăng trưởng chung của toàn cầu.

Thứ hai, đó là xu hướng thế giới hóa kinh tế quốc tế đòi hỏi phải đẩy nhanh quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế. Theo khuynh hướng này, việc chuyển sang kinh tế tri thức trở thành tiền để của thành công.

Về thực chất, mối gắn kết của hai điều kiện này chứa đựng nguy cơ tụt hậu và thách thức tăng trưởng mà Việt Nam đang đối mặt : hiện trạng yếu kém, chậm tăng trưởng đối diện với một toàn cầu tăng trưởng cao hơn và đang chuyển đổi với tốc độ nhanh hơn. Trong khi đó để phát triển được, để vượt qua hiện trạng chậm tăng trưởng, với all sự nghèo nàn và thấp kém về trình độ, Việt Nam phải nhập vào quỹ đạo phát triển của toàn cầu đó, vận động trong hệ thống quy tắc chung của nền tảng thế giới, gồm có cả nguyên tắc về tốc độ

Để phát triển Viet Nam bắt buộc phải khắc phục nghĩa vụ “kép”. trước hết, cần vượt thoát khỏi sự lạc hậu về kinh tế và thế giới nông dân. đồng thời chuyền nhanh sang nền kinh tế tri thức (thực chất là nhảy vọt, bỏ qua một trình độ, một niên đại kĩ thuật). Hai nghĩa vụ trên cùng nằm trên một trục tăng trưởng. Song content của chúng hoàn toàn đồng nhất. Nhiệm vụ thứ nhất click mạnh đến điểm xuất hành (mục tiêu vượt thoát khỏi hiện trạng hiện tại), đến logic tuần tự của thành đạt (chuyển từ kinh tế nông dân – nông nghiệp, tức hình thái thứ nhất, sang nền kinh tế phân khúc – công nghiệp, tức ảnh thái thứ hai). Nhiệm vụ thứ hai nhấn mạnh đến đích phải đạt đến (mục tiêu hướng đích) đến logic phát triển nhảy vọt: định hình và tạo lập cơ sở tăng trưởng kinh tế tri thức(hình thái thứ 3) ngay khi chưa hoàn toàn thoát khỏi hình thái thứ nhất. Sự phối hợp đáo tạo thành mẹo phát triển đặc thù trong thời hiện đại: vừa phải tuần tự, vừa phải nhảy vọt (bao hàm sự rút ngắn nhưng k chỉ có sự rút ngắn).

Nói chung, từ những yêu cầu phát triển đã đặt ra, cùng với tình ảnh thế giới cũng như nơi đất nước, đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần có sự linh động, sáng tạo trong việc lựa chọn mô ảnh phát triển kinh tế tri thức phù hợp để tăng trưởng kinh tế đất nước.

2.2. ý kiến của Đảng về việc lựa chọn mô hình phát triển kinh tế tri thức ở Viet Nam

phát triển kinh tế tri thức ở nước ta là một biến động plan trọng đại: chuyển nền kinh tế từ phụ thuộc tài nguyên sang dựa chủ yếu vào tri thức và năng lực sáng tạo của con người. như vậy, nền kinh tế tri thức là nền kinh tế sử dụng có hiệu quả tri thức cho tăng trưởng và tăng trưởng kinh tế, không gian, gồm có truy cập vào kho tri thức toàn cầu song song kiểm soát và sáng tạo tri thức mới quan trọng cho riêng mình. xác định rõ yêu cầu cần phải đẩy nhanh việc phát triển kinh tế tri thức ở nước ta, Đảng đã luôn luôn đề ra những yêu cầu, chính sách tăng trưởng kinh tế tri thức.

Qua các kỳ đại hội Đảng, tư duy về phát triển kinh tế tri thức của Đảng ta ngày càng được nâng cao. Từ công nghiệp hóa là nhiệm vu trung tâm, cách mạng khoa học – kỹ thuật là then chốt đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. tư duy về kinh tế tri thức vừa mới được Đảng ta xác định từ Đại hội IX: “ Kinh tế tri thức vừa mới trở thành xu thế nổi bật trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Nước ta từng bước phát triển kinh tế tri thức”. Qua các kỳ đại hội tiếp theo, tư duy về kinh tế tri thức vừa mới được Đảng ta bổ sung, phát triển. Đại hội X dành một chương nói về “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với tăng trưởng kinh tế tri thức”, nêu ra phương hướng, Nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế tri thức trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta..

Xem thêm: Sách Hướng Dẫn Thiết Kế Dụng Cụ Cắt Kim Loại 1, Thiết Kế Dụng Cụ Cắt Kim Loại 1

Đó là tiến trình tăng trưởng, từng bước nâng cao và cụ thể hóa tìm hiểu coi khoa học là động lực của thành đạt, tinh thần hòa hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; tiến trình đó tất yếu dẫn đến phát triển kinh tế tri thức. tư duy, đường lối chính sách đó là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp xu thế phát triển của thời đại, đã chi phối cách thức, con đường đi tới CNXH của Viet Nam.

Đến đại hội XI đường lối phát triển nền kinh tế tri thức đã được Đảng ta đưa ra một mẹo cụ thể, đó là: phát triển kinh tế tri thức trên cơ sở tăng trưởng giáo dục, training, khoa học, công nghệ; xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng khoa học, công nghệ, mạng, công nghệ auto, nâng cao năng lực nghiên cứu – ứng dụng gắn với phát triển nguồn nhân công chất lượng cao. phát triển mạnh các lĩnh vực và hàng hóa công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ công nghệ cao, có giá trị gia tối ưu, dựa nhiều vào tri thức. Phát huy và dùng có hiệu quả nhất nguồn tri thức của con người Việt Nam và khai thác nhiều nhất tri thức của nhân loại. thiết lập và triển khai lộ trình phát triển kinh tế tri thức đến năm 2020.

giống như vậy , từ các ý kiến mà Đảng ta đang đề ra chúng ta thấy về thực chất đó là sự phối hợp hai mô hình: tự xây dựng và kế thừa, áp dụng mô ảnh tăng trưởng kinh tế tri thức trên thế giới. Điều này thể hiện tư duy sáng tạo, sắc xảo của Đảng trong việc chọn mô ảnh kinh tế tri thức phù hợp với môi trường quốc gia ta.

2.3. Những thành tựu đã đạt được và một vài giải pháp để phát triển mô ảnh kinh tế tri thức ở Việt Nam

2.3.1. Những thành tựu đã đạt được khi lựa chọn và thực hiện mô ảnh kinh tế tri thức.

Thứ nhất, với việc lựa chọn và bước đầu thực hiện mô ảnh kinh tế tri thức, chúng ta đang xây dựng, hình thành được những lĩnh vực kỹ thuật cao, tạo điều kiện và support cho tiến trình tăng trưởng kinh tế tri thức một cách bền vững.

Sự kết hợp của mẹo trực tuyến công nghệ thông tin và thành công giống như vũ bão của khoa học kỹ thuật cao vừa mới tạo nên thành quả này từ chính mình của nó trong công cuộc thực hiện. Trong vòng hơn 20 năm qua, nhân loại vừa mới chứng kiến sự bùng nổ của các áp dụng công nghệ thông tin vào mọi mặt của quá trình sản xuất và đời sống xã hội. Điều này xuất hành từ việc giá thành của phần cứng giảm, tốc độ của vi xử lý ngày càng tối ưu với thiết kế kích thước nhỏ gọn, internet, công nghệ cao… vừa mới được ứng dụng rộng rãi trong toàn thế giới.

Cuộc hướng dẫn trực tuyến công nghệ thông tin vừa mới kéo đến sự tăng trưởng số lượng và trị giá các tri thức được “số hóa”, tạo điều kiện cho tiến trình sử dụng, tái dùng, lưu trữ và sáng tạo những tri thức mới trong tất cả các ngành được không khó khăn hơn có khi nào hết.

Thứ hai, chúng ta đã từng bước tạo dựng kết cấu hạ tầng then chốt cho kinh tế tri thức: online thông tin được nghiên cứu là một trong những kết cấu hạ tầng cần thiết nhất của xã hội và nền kinh tế tri thức. Trong những năm qua nhờ chăm chỉ thực hiện chương trình quốc gia về Công nghệ thông tin và kế hoạch đẩy mau tăng trưởng lĩnh vực viễn thông, trực tuyến thông tin đã được hình thành và tăng trưởng khẩn trương, viễn thông được nghiên cứu là một trong những lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng mau nhất nền kinh tế. hiện tại online viễn thông ở VN đã được tự động hóa hoàn toàn với 100% các nền tảng chuyển mạch số và truyền tải số trên toàn quốc và kết nối với quốc tế. Một loạt các dịch vụ bưu chính viễn thông và Internet được tạo lập và nở rộng để đáp ứng nhu cầu của KH, phục vụ các hoạt động sản xuất – mua bán, cai quản nhà nước, dạy bảo, y tế, tìm hiểu, giải trí, giao tiếp….

Thứ ba, quy mô kinh tế ngày càng được mở rộng, vốn và tri thức được luân chuyển khẩn trương đang đến được những nơi khó khăn, tạo đà cho thành đạt đồng bộ giữa các vùng, các miền trong cả nước. Trình độ tăng trưởng, mức chênh lệch giữa các vùng miền đã được giảm đi đáng kể.

Thứ tư, trên cơ sở tiếp thụ những thành tự khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin từ nước ngoài đang giúp cho Viet Nam giảm thiểu được những chi phí đầu tư và nghiên cứu ở trong nước. Trên cơ sở tiếp thụ, chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, khi đưa về lại được vận dụng, sáng tạo một hướng dẫn khéo léo để thêm vào với môi trường quốc gia.

Thứ năm, chính việc lựa chọn mô ảnh phát triển kinh tế tri thức, ở trong nước vừa mới hình thành được một trực tuyến lưới sale qua trực tuyến (online) với rất nhiều các website uy tín, đảm bảo.

Bên cạnh những thành tựu vừa mới đạt được trong phát triển kinh tế tri thức, chúng ta luôn luôn còn gặp phải một số những giới hạn, yếu kém cần phải khắc phục:

Các lĩnh vực mới, đại diện cho kinh tế tri thức hoặc chưa tạo dựng hoặc mới ở trình độ phát triển rất sơ khai. Các công ty đầu tư mạo hiểm, đầu tư nghiên cứu và triển khai nhằm xây dựng công nghệ mới chưa đáng kể. Tri thức chưa thực sự trở thành nguồn vốn quý, suy nghĩ thế giới và thể chế pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ còn nguy cơ, những người có mức độ tạo ra tri thức chưa tạo dựng được thói quen đăng ký quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ cho sản phẩm khoa học và công nghệ của mình.

vận dụng công nghệ thông tin trong đời sống kinh tế không gian còn rất hạn chế. mạng thông tin đa phương tiện tuy vừa mới và đang được mở rộng khá nhanh nhưng chưa được phủ sóng toàn quốc, chưa kết nối đến được hầu hết các đơn vị và hộ gia đình. Các công thức mua bán mới giống như thương mại – điện tử, thị trường ảo, đơn vị ảo, doanh nghiệp không có thực, làm việc từ xa còn ở mức độ manh nha.

Nền dạy bảo training của nước ta chứa đựng nhiều chủ đề bức xúc, bộc lộ nhiều yếu kém dai dẳng chưa khắc phục được. Công tác không gian giáo dục diễn ra châm, sự phân biệt đối xử với các cơ sở giáo dục ngoài công lập… góp phần kìm hãm sự phát triển dạy bảo. thực tiễn đó đang ảnh hưởng đến gốc nhân lực của Việt Nam, một gốc nhân lực dồi dào về tỉ lệ, nhưng lại thiếu trầm trọng gốc lao động có chất lượng.

mong muốn tăng trưởng một nền kinh tế tri thức phát triển, sánh kịp với các nước trong khu vực và trên toàn cầu, VN cần phải đẩy mạnh thêm nữa việc tăng trưởng những thành tựu đang đạt được và giải quyết những hạn chế, thiếu sót còn tồn đọng.

2.3.2. Một vài giải pháp để tăng trưởng mô hình kinh tế tri thức ở VN

thực tế phát triển của chính nước ta trong những năm vừa qua đang chứng tỏ một phương pháp thuyết phục rằng, Viet Nam có quá đủ năng lực và điều kiện để thực hiện thành đạt đường lối tăng trưởng kinh tế tri thức, một đường lối táo bạo và đầy tính sáng tạo. trải nghiệm tăng trưởng ngành công nghệ thông tin – viễn thông, việc chế tạo sự phát triển các món hàng Nano, những thành tựu trong công nghệ sinh học cùng với năng lực sáng tạo trong toán học, vật lý học… cho thấy, nếu mạnh dạn, có quyết tâm và nghiêm túc bước vào quỹ đạo phát triển hiện đại, hiển nhiên chúng ta sẽ sự phát triển. Niềm tin đó sẽ được củng cố thêm khi bên cạnh chúng ta có những trải nghiệm phát triển kinh tế tri thức thành đạt của Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và gần kề ta nhất, Trung Quốc. Niềm tin còn trở nên mạnh mẽ gấp bội nếu chúng ta ý thức đa số hơn về lợi thế lớn to của một nước đi sau mà Việt Nam đã sở hữu.

xuất phát từ tình hình trong nước và những thành tựu, giới hạn của nước ta từ khi chọn mô hình phát triển kinh tế tri thức thì chúng tôi mang ra một số phương pháp sau để phát triển kinh tế tri thức ở Vịêt Nam trong công đoạn hiện nay:

Thứ nhất: gấp rút thiết lập một Chương trình tăng trưởng kinh tế tri thức mang tầm cỡ kế hoạch quốc gia, coi đây là “trục” của plan tăng trưởng kinh tế – xã hội mang nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại.

Thứ hai: Phải đổi mới cơ chế và chính sách, tạo lập một khuôn khổ pháp lý mới, thích hợp với thành công nền kinh tế thị trường định hướng không gian chủ nghĩa. Cơ chế chính sách phải thực sự khuyến khích và buộc các doanh nghiệp phải luôn đổi mới, và phải thúc đẩy sự ra đời khẩn trương các doanh nghiệp mới, nhất là các công ty kinh doanh món hàng mới, công nghệ mới. Phải tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, chống độc quyền. Nhà nước thực sự đóng vai trò bà đỡ, tạo khung khổ pháp lý và support các điều kiện cần thiết để tăng trưởng khoa học – công nghệ và cho hoạt động nghiên cứu, nghiên cứu – khai triển.

Thứ ba: tiếp tục cải hướng dẫn mạnh mẽ, có kết quả nền giáo dục và đạo tạo theo hướng nâng cao dân trí, coaching nhân lực bồi dưỡng và phát huy nhân tài.Trong những năm tới phải tăng trưởng mạnh đầu tư để tăng trưởng dạy bảo và phải tiến hành một cuộc cải hướng dẫn dạy bảo mới. Trong một thời gian ngắn phấn đấu để phổ cập giáo dục trung học cơ sở trong toàn quốc, phổ cập trung học phổ thông trong các thành thị, khu công nghiệp và vùng đồng bằng đông dân, gia tăng mau đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề, đội ngũ cán bộ cai quản.

Thứ tư: gia tăng cường năng lực khoa học và công nghệ quốc gia để đủ nội lực tiếp thu, làm chủ, vận dụng sáng tạo các tri thức khoa học và công nghệ mới nhất của thế giới quan trọng cho sự phát triển nước ta, từng bước sáng tạo những công nghệ mới đặc thù của nước ta, thiết lập nền khoa học và công nghệ tiên tiến của Viet Nam.

Thứ năm: Phát triển mạnh khoa học, công nghệ, tập trung vào việc việc đẩy mạnh áp dụng và phát triển công nghệ thông tin giúp sức công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Công nghệ thông tin là chìa khoá để đi vào kinh tế tri thức. muốn rút ngắn tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, rút ngắn khoảng hướng dẫn với các nước, phải giải quyết khoảng hướng dẫn về công nghệ thông tin. Trước năm 2010 trình độ công nghệ thông tin của Viet Nam phải đạt mức tiên tiến trong khu vực.

Trong tổng thể những nội dung đổi mới toàn diện, cần tụ hội trọng điểm vào việc nhận thức lại và thực hiện đúng chức năng, vai trò của Nhà nước đối với phát triển kinh tế, từ điều khiển, chỉ huy sang là “kiến trúc sư” trong cải mẹo giáo dục – training, trong tăng trưởng khoa học, công nghệ, trong việc tạo nơi thuận lợi và khích lệ mọi nguồn lực để thực hiện bước chuyển đổi từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức.

III. KẾT luận giải

Trong bối cảnh toàn cầu hóa bây giờ, việc tăng trưởng kinh tế tri thức để tăng trưởng cấp độ cạnh tranh, nâng cao sức mạnh của nền kinh tế trong nước là một điều hết sức quan trọng. VN tuy là một nước đang tăng trưởng nhưng nền kinh tế phát triển luôn luôn còn chậm, thiếu vững bền và sự tất nhiên. “Đi tắt đón đầu” là một chủ trương khá táo bạo và quyết liệt của Đảng nhằm thiết lập nền kinh tế nước ta sánh kịp với nền kinh tế khu vực và toàn cầu. giống như vậy cùng một lúc, chúng ta vừa thực hiện việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa quốc gia, lại vừa hòa hợp với xây dựng, phát triển nền kinh tế tri thức. Với chủ trương đúng đắn, sáng tạo giống như vậy, việc lựa chọn một mô ảnh kinh tế tri thức thích hợp với điều kiện, tình hình quốc gia là điều rất quan trọng. xuất hành từ thực tế đất nước cùng với tư duy linh động, sáng tạo, Đảng ta đang chủ trương lụa chọn tăng trưởng kinh tế tri thức ở nước ta trên cơ sở hòa hợp hai mô hình: tự xây dựng và kế thừa cùng lúc kế thừa có chọn lọc và áp dụng những thành tựu tăng trưởng kinh tế tri thức trên toàn cầu.